Saturday, 17 August 2013

Đổi mới vì người học

Đã có rất nhiều cuộc trao đổi, họp bàn nhằm mong muốn chương trình - sách giáo khoa sau năm 2015 phải thật sự đổi mới, có ý nghĩa thiết thực đối với người học. Thế nhưng những ý kiến đóng góp này sẽ không có giá trị gì nếu quan điểm và cách thức tổ chức, thực hiện sách giáo khoa không thay đổi.

Thời gian qua, chúng ta thấy có vô số trường hợp sai sót trong sách giáo khoa (SGK) dẫn đến việc lần tái bản nào cũng phải đính chính. Dư luận cũng không ít lần đưa ra những trường hợp “không hiểu nổi” về những kiến thức đó vừa hàn lâm, xa lạ vừa không có giá trị gì đối với lứa tuổi học sinh khiến cả người dạy và học đều khổ sở. Đây chính là hậu quả của quá trình thực hiện SGK như thời gian qua. 
Một chuyên gia biên soạn SGK cho Thanh Niên biết là phần lớn những người viết SGK hiện nay đều làm nghề “tay trái”. Họ là những nhà nghiên cứu sâu về một chuyên môn nào đó chứ không giảng dạy bậc phổ thông. Thậm chí, có người chưa từng giảng dạy ngành sư phạm. Vì thế không ngạc nhiên khi nội dung SGK quá chuyên môn, cao siêu, xa rời thực tế. Đó là lý do mà có lần PGS Văn Như Cương khẳng định  30% kiến thức toán (phổ thông) là vô bổ nếu học sinh không theo chuyên ngành toán! Đó là chưa kể quy trình viết SGK như vừa qua đang theo một quy trình ngược, chưa thông qua chương trình chính thức thì đã biên soạn xong SGK. Cũng theo các chuyên gia, sách sau khi viết xong có trải qua quá trình thực nghiệm nhưng lại không có hội đồng đánh giá nên hay có sai sót. 
Trong khi đó, một chuyên gia kể rằng ở Brisbane (thủ phủ bang Queensland, Úc), khi làm SGK, Bộ Giáo dục bang gửi thông báo giới thiệu đến những người có thể tham gia xây dựng chương trình các môn học. Đó thường là những người có uy tín trong lĩnh vực giáo dục và hiệu trưởng các trường phổ thông. Các chuyên gia sau khi đã được lựa chọn bắt tay vào biên soạn chương trình học. Chương trình này sẽ được lấy ý kiến từ người học đến phụ huynh, giáo viên và cộng đồng. Sau khi nhận được các ý kiến phản hồi, các chuyên gia xây dựng  một chương trình để bộ phê duyệt.
Với nhiều nước, SGK chỉ là một trong những tài liệu tham khảo để giảng dạy nên không nhất thiết mọi thứ phải để trong SGK. Vì vậy, chương trình -SGK của họ hết sức cơ bản và nhẹ nhàng. Trong  quá trình giảng dạy, giáo viên được quyền quyết định chuyển tải bao nhiêu phần nội dung trong SGK miễn đúng quy định. Từ chương trình đã có, giáo viên bộ môn phải cùng nhau xây dựng các bài giảng và bài giảng này  phải được những người có trách nhiệm về giáo dục của các hạt (một cấp dưới bang) phê duyệt. Trên cơ sở chương trình được phê duyệt, Bộ Giáo dục ở những nước này thường khuyến khích các tác giả, nhà xuất bản biên soạn nhiều SGK để nhà trường và học sinh có thể lựa chọn một SGK tốt nhất.
Vấn đề với chúng ta hiện nay là nhiều khoa của các trường sư phạm vẫn chưa đưa môn xây dựng chương trình học vào đào tạo giáo viên. Đây thật sự là một khó khăn nếu muốn đổi mới việc xây dựng chương trình - SGK. Năm 2015 ở ngay trước mắt mà mọi thứ nền tảng chuẩn bị cho sự đổi mới này còn quá ngổn ngang. Mà nếu bỏ qua mốc thời gian này, bao giờ sẽ thay đổi? Vậy là, vẫn còn rất nhiều âu lo về một chương trình - SGK sắp thay đổi.

Người Việt lãng phí của công

Trong thời gian vừa qua, hàng loạt các vụ lãng phí công được phanh phui trên các phương tiện thông tin đại chúng khiến công chúng vô cũng phẫn nộ. Thế nhưng, trong khi chỉ trích sự lãng phí đó thì chính một bộ phận không nhỏ người dân cũng đang lãng phí của chung mà không biết.
Năm 2012 là một năm đầy khó khăn và thử thách của nền kinh tế thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Tiết kiệm là một trong những biện pháp mà toàn thể người dân Việt đang thực hiện để chống lại cơn khủng hoảng.

Người Việt trẻ “tiên phong”

Điện thắp sáng bật suốt ngày, đêm, nước xả tràn trề - đó là hình ảnh không hiếm gặp ở các khu trọ của sinh viên hiện nay. Việc tiết kiệm những thứ như điện và nước là điều khó khăn với các một số người Việt trẻ. Họ nghĩ rằng tiền đã đóng thì phải được dùng cho “xứng đáng” với số tiền đó.
Tôi thấy tại một xóm trọ nhỏ có 7 phòng (toàn là sinh viên) ở Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội, chỉ riêng việc thắp sáng sân phơi chung và nhà vệ sinh (2 bóng tuýp) đã lên tới gần 30 số điện (kWh). Những sinh viên sống tại đây bật đèn nhà vệ sinh 24/24, đi vệ sinh xong không tắt.
Về tiền nước, ai cũng nghĩ chủ thu quá cao nên đối phó bằng cách xả nước vô tội vạ. Giặt quần áo, rửa rau, rửa bát… họ để nước xả tràn ra mà không thèm tắt.
Một sinh viên trường ĐH Mỏ - Địa chất trọ tại đây cho biết: “Một tháng họ thu tận 60.000 đồng /tháng điện thắp sáng và tận 50.000 đồng/tháng tiền nước. Quá cao! Nhưng tìm phòng trọ rất khó nên cắn răng chịu đựng. Vì thế, điện, nước cứ phải dùng thoải mái”.
Tại các trường trên địa bàn Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung, việc sử dụng điện làm sao cho tiết kiệm cũng không được những “chủ nhân tương lai của đất nước” chú ý. Tại các giảng đường, phòng học, đèn và quạt được bật ngay cả khi đã học xong, không ai tắt điện, tắt quạt khi ra về.
Rất nhiều giáo viên và giảng viên cũng góp phần làm trầm trọng sự lãng phí xã hội, máy chiếu bật cả khi không sửa dụng, đèn phòng nghỉ luôn sáng khi đã vào lớp dạy.
Bệnh lãng phí công cũng là vấn đề nhức nhối tại các cơ quan nhà nước và bệnh viện công. Đây là nơi làm việc của những người có trình độ học vấn cao trong xã hội, nhưng hiện tượng như “nấu cháo” điện thoại của cơ quan, phòng điều hòa ở 16 độ C… vẫn luôn tái diễn.
Hình ảnh nhức nhối tại một số bệnh viện là phòng của bệnh nhân thì nóng bức, ngột ngạt, trong khi đó tại phòng của bác sĩ, y tá thậm chí còn rất lạnh do bật điều hòa hết công suất.
Văn hóa ăn uống cũng biểu hiện ý thức thiếu tiết kiệm của người Việt. Những người nước ngoài đến Việt Nam thắc mắc rằng: “Tại sao họ (người Việt) luôn để lại một chút đồ ăn mà không dùng hết?”. Khi đi ăn buffet cũng vậy, mọi người lấy rất nhiều nhưng lại không ăn hết, nhìn những đĩa thức ăn thừa mà thấy thật xót xa.
Người Việt quan niệm lấy nhiều hay lấy ít thì cũng chỉ phải trả một số tiền như nhau, thế nên họ lấy cho thật sướng tay. Thành ra mới có chuyện đi ăn buffet ở Việt Nam cần phải đi sớm, nếu không sẽ chẳng còn gì để dùng.

Tiết kiệm: cần có một thói quen

Thói quen tiết kiệm làm nên một quốc gia hùng mạnh như nước Nhật ngày nay. Quan chức Nhật Bản mỗi khi đi công tác người ngoài, họ chỉ thuê nhà nghỉ bình dân, không bao giờ ở những khách sạn sang trọng.
Trong giai đoạn khủng hoảng năng lượng, mọi người run lập cập trong mùa đông vì không dám bật máy điều hòa đủ ấm là điều dễ bắt gặp ở các công sở. Để hình thành thói quen như vậy, người Nhật đã được giáo dục từ nhỏ, họ luôn ý thức được vai trò của việc tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm công đối với bản thân và đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về tiết kiệm là: “Tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phải là bủn xỉn, mà những việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng”.
Mỗi người dân Việt cần học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và tạo một thói quen tốt như người Nhật. Chúng ta có thể tiết kiệm từng đồng bạc lẻ cho bản thân, thì tại sao lại không tiết kiệm cái chung của đất nước.
Không chỉ người trẻ mà tất cả mọi người hãy chung tay xây dựng một xã hội tiết kiệm không chỉ để vượt qua khó khăn hiện tại mà còn vì thế hệ tương lai. Hãy đừng để tiết kiệm nơi công cộng chỉ là khẩu hiệu.

Đừng quá 'tự sướng' về phẩm chất người Việt

Chúng ta vẫn thường được nghe trên báo đài về các phẩm chất của người Việt như: cần cù chịu khó, có tố chất thông minh và sáng tạo, thân thiện và mến khách... Nhưng sự thật có phải như thế hay chúng ta đang tự huyễn hoặc mình bằng những điều hoa mỹ?
Những nhận định đánh giá này có khi là xuất phát từ chủ quan của người Việt mình, khi thì được trích dẫn từ góc nhìn của một người bạn nước ngoài nào đó. Chưa biết điều đó có thật sự đúng và khách quan hay không nhưng đôi lúc cũng làm cho tôi (và có lẽ cũng rất nhiều người khác) cảm thấy rất tự hào.
Tôi chưa có dịp đi ra nước ngoài để có thể có một sự trải nghiệm hoặc so sánh với người dân các nước khác xem thử dân mình có thật sự nổi bật hơn với những đức tính nói trên hay không.
Thế nhưng với những cảm nhận những gì đang xảy ra trong cuộc sống, cùng với những câu chuyện từ trên báo chí và của những người quen biết từng sống ở nhiều nước trên thế giới tôi chợt giật mình tự hỏi những gì lâu nay mình vẫn tự hào có phải là một sự huyễn hoặc hay ít ra đó là những đánh giá vội vàng, khiên cưỡng.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng tính cần cù chịu khó: nếu chịu khó lang thang trong các quán cà phê có mặt ở khắp nơi từ phố xá cho đến thôn quê ta không khỏi ngỡ ngàng bởi có vô số người đủ mọi thành phần, lứa tuổi đang rất nhàn rỗi bên những ly cà phê (hoặc nước giải khát) bất kể là nắng hay là mưa, trong giờ hành chính hay ngoài giờ, ngày nghỉ hay ngày làm việc.
Trong số đó có rất ít người đến để bàn công việc mà chủ yếu họ đến để “giết” thời gian. Mà nào đâu chỉ có quán cà phê, ở các quán nhậu, quán bi-a cũng có những cảnh tượng tương tự. Hoặc có điều kiện thâm nhập vào các công sở hẳn sẽ không khó khăn lắm để mục sở thị không khí là việc uể oải, “câu giờ” của nhiều công chức nhà nước...Lúc đó chắc hẳn mọi người sẽ tự hỏi cái chất cần cù, siêng năng, chịu khó đang thật sự ở mức nào?
Còn với đức tính thông minh, sáng tạo thì chúng ta phải đặt vấn đề là có bao nhiêu phát minh khoa học, bao nhiêu giải pháp công nghệ của người Việt được thế giới công nhận? Trong tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục… có bao nhiêu phần trăm hàm lượng công nghệ mang nhãn hiệu made in Việt Nam?
Khó có câu trả lời thật chính xác nhưng ta có thể nói ngay rằng những thành quả đó là rất ít, thậm chí là không đáng kể. Thật đáng buồn hơn khi hiện tại chúng ta hầu như chưa làm chủ được các kỹ thuật công nghệ nguồn .
Sự thân thiện và hiếu khách của người Việt thì sao? Thật sự thì cũng khó đồng tình khi chúng ta thường xuyên nghe sự ta thán của không ít của du khách nước ngoài, các đối tác làm ăn kể cả các Việt kiều về việc các nhân viên hải quan, tiếp viên hàng không Việt Nam - những người được coi là tiếp tân của quốc gia, sao thường xuyên thiếu vắng nụ cười .
Cũng tương tự khi đến các công sở nhà nước, các bệnh viện, trên xe buýt… chúng ta cũng hiếm khi nhận được sự niềm nở ân cần. Rồi thì nạn chặt chém du khách, nạn chèo kéo, bu bám du khách ở rất nhiều điểm du lịch nổi tiếng trên cả nước đã chứng minh điều ngược lại cho nhận định về sự thân thiện và hiếu khách.
Chưa kể một số mặt khác như kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác làm việc theo nhóm, ý thức cộng đồng, tính cầu thị và khả năng học hỏi của người Việt mình cũng không được đánh giá cao.
Nói như thế tôi không có ý định phủ nhận cũng như đánh giá thấp tất cả những đức tính tốt đẹp của tất cả người Việt mình, cũng không phải là một cách nhìn tự ti. Ở đâu đó và ở những thời điểm nào đó cũng có không ít con dân đất Việt đang hăng say miệt mài lao động sáng tạo và gặt hái được những thành công đáng ghi nhận.
Cũng có biết bao nhiêu con người dù trong gian khó vẫn lạc quan yêu đời, vẫn luôn luôn nở nụ cười đem lại cho cuộc sống này những gam màu tươi mát. Chỉ có điều nó chưa thật sự trở thành sâu rộng, phổ biến đến mức nổi bật và mang tính đại diện cho cả dân tộc.
Tuy nhiên tôi vẫn tin rằng tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam đều có sẵn những đức tính cần cù thông minh, sáng tạo và cũng cực kỳ thân thiện hiếu khách. Vấn đề là chúng ta phải làm sao gợi dậy được những đức tính đó.
Thế nhưng để làm sao cho những đức tính đó được bộc lộ, phát huy và lan tỏa một cách rộng khắp để trở thành như một thứ “quốc bảo” thì có lẽ còn quá nhiều việc phải làm.

Người Việt mất hàng tỷ USD vì 'trà chanh, chém gió'

Mô hình "trà chanh" vô cùng hấp dẫn vì nó quá "hợp gu" với văn hóa đánh nhanh thắng gọn của nhiều người Việt. Nhưng chính tâm lý này đã góp phần san bằng sàn chứng khoán, đóng băng bất động sản.

Thời gian gần đây khắp hang cùng ngõ hẻm đất Sài thành các quán trà chanh, phô mai que, chè khúc bạch mọc lên như nấm sau mưa. Phong trào lên cao đến mức vào Google đánh chữ “trà” sẽ hiện chữ “chanh”, đánh chữ “chanh” sẽ hiện chữ “chém”, đánh chữ “chém” sẽ hiện chữ “gió”.
Khoan bàn đến chuyện được, thua hay thành, bại của “mô hình kinh doanh” này, điều thú vị ở đây là chủ các “doanh nghiệp trà chanh” này hầu như là các bạn trẻ, rất trẻ (8X “đời cuối” hoặc 9X). Nhân hiện tượng xã hội này, chúng ta thấy gì từ lớp “doanh nhân trẻ” của nước nhà.

Từ chuyện “một vốn bốn lời”...

Một ly trà chanh có vốn 1.000 đồng -2.000 đồng, bán được 8.000 đồng. Với số vốn bỏ ra ban đầu khoảng chưa đến chục triệu chỉ cần địa điểm kinh doanh thuận lợi thì có khi chỉ vài tuần là thu hồi vốn. Thu nhập “siêu khủng” này khiến 1 đồn 10, 10 đồn 100, chủ quán kinh doanh “phấn khởi” liên tục mở chi nhánh 2, 3, 4… khiến thị trường “ngập lụt” trong thời gian ngắn.

… đến nền kinh tế “trà chanh”…

Lợi nhuận biên cao, vốn đầu tư thấp, mô hình kinh doanh đơn giản vốn là sự mâu thuẫn mà mọi lý thuyết kinh tế đều phủ nhận. Tuy nhiên, trong những giai đoạn nhất định (thường là rất ngắn) nó vẫn tồn tại trước khi “bàn tay vô hình” sắp xếp lại trật tự vốn có của nó.
Hơn nữa mô hình “trà chanh” vô cùng hấp dẫn vì nó quá “hợp gu” với văn hóa “đánh nhanh thắng gọn”. Những tưởng người ta chỉ cần rửa mặt bằng nước lạnh là tỉnh, thế nhưng hỡi ôi, cơn “sóng thần” san bằng chứng khoán, bất động sản vẫn chưa xóa tan nổi cái ảo giác về sự “vào đúng chỗ, ra đúng lúc”. Họ đã nhận được bài học thích đáng, nhưng lại biên dịch nó sai. Họ vẫn khát khao siêu lợi nhuận với rủi ro thấp bằng cách rút ngắn thời gian đầu tư.
Ở nước ngoài người ta tự hào đưa vào logo dòng chữ “since 18xx” để khẳng định giá trị thì ở nước ta nhìn lại mà bùi ngùi có mấy nhà được như thế? Có chăng tôi vẫn thầm ngưỡng mộ khi bước vào một quán gà hấp muối “since 1949” ở quận 5, đã 3 đời kinh doanh một món ngon “bí truyền”, khiêm tốn trong một con hẻm nhỏ và nội thất rất đỗi bình dân… giá trị bền vững nằm ở những nơi như thế.

… và những doanh nhân “chém gió”

Hỏi mà xem, phần lớn những “doanh nhân” kia đều có chung xuất phát điểm là khách hàng của chính mô hình kinh doanh của chính họ. Hàng tỷ đôla để trả giá cho triệu con người đang “chém gió” ở quán trà chanh, cà phê máy lạnh, quán nhậu bình dân (không phải là cái giá của ly nước, mà là chi phí cơ hội mất đi).
Người ta viện cớ “ra quán bàn công chuyện”, những cái cớ ngớ ngẩn. Những nơi ấy thường sản sinh ra sự lười biếng, bệnh tham nhũng, sự phung phí, thói chộp giật và bắt chước trơ trẽn nhiều hơn là những ý tưởng kinh doanh nghiêm túc. Nhìn ở một góc độ khác, đó cũng là sự hoảng loạn trong suy thoái.
Người ta bàn về phục hồi kinh tế hình chữ V, rồi chữ U... Lạc quan thật. Sự hồi sinh sẽ không đến từ nền kinh tế “trà chanh” và các doanh nhân “chém gió”. Có chăng đây là cuộc đào thải để cho những ai sống sót một cơ hội làm lại từ đầu, và chỉ có làm đúng mới có hy vọng, còn không sẽ là một mô hình kinh tế chữ L nối tiếp nhau.
Doanh thu chỉ ổn định khi lợi thế cạnh tranh không thể bắt chước dễ dàng. Lợi nhuận cao chỉ có trên nền tảng sự sáng tạo và đổi mới không ngừng. GDP chỉ tăng mạnh khi có nhiều hơn người Việt, sống tại nước Việt, làm ra sản phẩm Việt có giá trị kinh tế cao.

Cách kiếm tiền nhanh nhất: làm ăn chân thật

Việc các doanh nghiệp, hộ kinh doanh chọn bán hàng cho một người khách để lấy 5 đồng thay vì bán cho mười người để lấy của mỗi người một đồng, không phải là một lựa chọn khó hiểu. Nhưng họ sẽ dần nhận ra rằng lối ăn xổi, bóc ngắn cắn dài đó không phải là cách kiếm tiền hiệu quả nhất.

Chân thật sinh lời. Trong cuốn "Võ sĩ đạo: Linh hồn của nước Nhật", khi nói đến thói làm ăn tráo trở của lái buôn Nhật bị người châu Âu chỉ trích vào thời đấy, Inazo Nitobe có viết "Vào tháng 11 năm 1880, Bismarck có gửi một thông tri đến các lãnh sự Đức ở nước ngoài, cảnh báo họ về "một sự thật đáng quan ngại về tình trạng các hàng hóa trên các tàu buôn của nước Đức không được tin cậy cả về chất lượng lẫn số lượng".
Ngày nay (những năm 1900), chúng ta hầu như không nghe thấy ai than phiền về sự bất cẩn hay tín trí trá của người Đức trong nghề buôn. Trong vòng 20 năm, lái buôn nước Đức học được rằng là nói cho cùng thì làm ăn chân thật là cách kiếm lời nhanh nhất.
Giờ đây, lái buôn của chúng tôi (nước Nhật), đã lĩnh hội được điều đó. Khi một đất nước mở cửa cho nền kinh tế thị trường, thì việc xuất hiện một bộ phận những người muốn kiếm lời trong ngắn hạn bằng thói gian dối, biển lận là dễ hiểu. Dẫu rằng ở những nước nổi tiếng kỷ luật bậc nhất thế giới như Đức hay Nhật cũng vậy.
Thế nhưng người ta học được rất nhanh rằng đến cuối cùng thì uy tín mới là mặt hàng kiếm lời nhanh nhất, vậy nên đến tận ngày nay, hàng hóa Đức hay Nhật Bản vẫn nổi tiếng vì chất lượng của mình. Một bài học nghe có vẻ đơn giản, nhưng phải mất hàng chục năm để một quốc gia thấm được tinh thần ấy.
Cách đây 3, 4 năm tôi có nói chuyện với một doanh nhân đã lăn lộn gần 20 năm buôn bán làm ăn với Nhật, Hàn, Trung. Anh ấy nói "Cái điểm khác biệt giữa làm ăn với người Nhật và người Hàn là: Khi làm ăn với người Nhật thì họ sẽ lôi hết tất cả xấu tốt ra đặt trước mặt mình, rồi bảo: “Đấy, mày làm thì làm không làm thì nghỉ”. Còn làm với người Hàn thì họ sẽ chỉ nói điểm tốt mà không đề cập đến điểm xấu.
Một người bạn Mỹ của tôi đã từng sống nhiều năm ở cả Nhật Bản và Hàn Quốc có nhận xét: "Cả ở Nhật lẫn ở Hàn, họ đều học "như trâu", nhưng điểm khác biệt là trong giờ kiểm tra, nếu có thể quay cóp mà chắc chắn không bị phát hiện thì người Hàn sẽ làm, còn người Nhật thì không".
Hàn Quốc bắt đầu kinh tế thị trường từ đầu những năm 1960, có thể còn có yếu tố văn hóa ảnh hưởng ở đây, nhưng cho dù chậm hơn Nhật thì với những công ty lớn của họ đang vươn ra toàn cầu, tôi cho rằng họ đã ít nhiều nhận ra rằng thành thật trong kinh doanh không chỉ là vấn đề về đạo đức mà còn về cả lợi nhuận.
Mấy năm nay đọc báo, thấy dư luận trong nước càng ngày càng ca thán về tình trạng chặt chém, lừa đảo khách hàng. Nước ta đi theo kinh tế thị trường chậm hơn người khác cả trăm năm,  mà quá trình học hỏi cũng chậm hơn, thì không cách nào đuổi kịp người ta.
Việc các doanh nghiệp, hộ kinh doanh chọn bán hàng cho một người khách để lấy 5 đồng thay vì bán cho mười người để lấy của mỗi người một đồng, không phải là một lựa chọn khó hiểu. Nhưng cũng như ở những nước khác, họ sẽ dần dần nhận ra rằng lối ăn xổi, bóc ngắn cắn dài đó không phải là cách kiếm tiền hiệu quả nhất.
Đã có một bộ phận doanh nghiệp Việt Nam nhận ra điều này, nhưng ở trong một môi trường mà số đông chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, họ bị thiệt thòi cả về uy tín chung lẫn về lợi nhuận.
Sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ học được bài học mà người Đức hay người Nhật đã học được cách đây hơn 120 năm: "Honesty is the best policy" - "Thật thà là cách làm việc tốt nhất". Nhưng học được càng muộn thì cái giá phải trả càng đắt và bài học càng đớn đau.